🥍 Cấu Trúc Bài Văn Nghị Luận Xã Hội Lớp 9
Nghị luận về một tư tưởng đạo lí: Nghị luận về một tư tưởng đạo lí là bàn về một vấn ngữ văn 12 đã đưa ra phần ghi nhớ về cách làm bài nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống như sau:- Bài nghị luận về
Ngoài Ôn tập vào lớp 10 môn Ngữ văn: Các dạng bài văn nghị luận. Mời các bạn học sinh còn có thể tham khảo các đề thi học kì 2 lớp 9 các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh mà chúng tôi đã sưu tầm và chọn lọc. Với đề Thi vào lớp 10 năm 2021 này giúp các bạn rèn luyện
Để làm tốt bài nghị luận văn học lớp 9, trước tiên các em cần phân biệt được dạng đề nghị luận, cách thức triển khai từng dạng đề và nắm rõ các yêu cầu khi làm một bài văn nghị luận văn học. Kiến thức trọng tâm về nghị luận văn học đã được chúng tôi tổng hợp trong bài viết dưới đây, mời
Nghị luận xã hội là câu hỏi thường gặp trong các đề thi tuyển sinh, thi học kì và đặc biệt là đề thi môn Ngữ văn THPT Quốc gia với nhiều dạng bài khác nhau như phân tích một hiện tượng đời sống, một một tư tưởng đạo lí, Nhìn chung, cấu trúc bài văn nghị luận xã hội sẽ không quá phức tạp, phù hợp
Với 20 bài Nghị luận về lối sống có Lớp 11; Lớp 12; Biểu Mẫu Học Tập Lớp 9 Nghị luận xã hội về lối sống có trách
Các bước làm bài văn nghị luận xã hội lớp 9. 1. Kiểu bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống. 2. Kiểu bài văn Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí. 2. Những lưu ý khi làm văn nghị luận xã hội. 1. Nắm vững yêu cầu của đề.
Luyện tập 11.4 trang 56 vở thực hành Tin lớp 7: Ưu điểm của việc sử dụng cấu trúc phân cấp trong bài trình chiếu là gì? Gợi ý: Xem lại nội dung trong Hộp kiến thức ở trang 57 của SGK
Kĩ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC. 1. Một số yêu cầu về kĩ năng. – Bài văn nghị luận văn học cần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm văn học. Trong quá trình viết bài văn nghị luận văn học, muốn chứng minh một cách
Bạn đang đọc: Cấu trúc bài văn nghị luận xã hội Bước 2: Gợi nhớ kiến thức bằng sơ đồ bốn duy. Sau khi xác minh được hình ảnh được hình ảnh trung tâm của toàn bài bước tiếp sau đó là gợi ghi nhớ lại kiến thức và kỹ năng và hoàn thành sơ đồ tư duy văn học .
dSRyatP. 1. Giới thiệu văn mẫu nghị luận văn học 9 Lớp 9 là một giai đoạn đánh dấu bước trưởng thành về cả nhận thức và kỹ năng của tất cả các em học sinh. Lúc này các em đang đứng trước một kì thi quan trọng đó là kì thi 9 vào 10. Để thi tốt kì thi này thì các em phải học rất nhiều môn khác nhau trong đó có môn Ngữ văn. Hơn nữa Ngữ Văn 9 là một môn học khó và được tổng hợp từ nhiều kiến thức khác nhau về đọc hiểu và làm văn. Vì vậy mà nhiều em vô cùng lo lắng, đặc biệt là trong các dạng đề nghị luận văn học, các em thường lúng túng, không biết sẽ bắt đầu như thế nào và triển khai ra sao cho hợp lý, vừa đảm bảo đúng, đủ nội dung và thể hiện được sự sinh động và hấp dẫn trong bài viết của mình. Nắm bắt được những khó khăn đó, eLib đã tổng hợp và chia sẻ đến các em Hệ thống bài văn mẫu nghị luận văn học lớp 9 với những bài văn hay nhất, sáng tạo nhất. Tin rằng, đây sẽ là tài liệu hữu ích hỗ trợ các em học tập, ôn luyện hiệu quả. Mời các em tham khảo nội dung từng bài văn chi tiết ở Menu bên trái đối với PC và Menu ở trên đối với Mobile. 2. Một số yêu cầu về kĩ năng làm bài nghị luận văn học 9 - Bài văn nghị luận văn học cần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm văn quá trình viết bài văn nghị luận văn học, muốn chứng minh một cách thuyết phục sự thống nhất giữa nội dung và hình thức nghệ thuật ở tác phẩm văn học thì cần xác định trúng cái hay, cái lạ của các phương thức, thủ pháp nghệ thuật cách dùng từ ngữ, hình ảnh, nhịp điệu,… trong thơ; cách miêu tả nhân vật, dẫn dắt cốt truyện,… trong tác phẩm tự sự cũng như mối quan hệ của nó với chủ đề tư tưởng của tác phẩm; từ đó khẳng định được rằng việc tác giả lựa chọn sử dụng hình thức nghệ thuật ấy là “phương án tối ưu” để thể hiện nội dung ví dụ với cách sử dụng ngôn ngữ tài tình trong Truyện Kiều, Nguyễn Du được đánh giá là bậc thầy về nghệ thuật thể hiện tâm lí nhân vật, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình,…. - Để phân tích, lí giải thấu đáo vấn đề cần nghị luận, cần đặt nó trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể và ý đồ sáng tác của nhà văn. Mỗi nhà văn đều gắn với một thời đại, một bối cảnh xã hội – lịch sử nhất định. Tác phẩm văn học là đứa con tinh thần của nhà văn, được nhà văn sáng tạo trong một hoàn cảnh cụ thể và gửi gắm vào đó những nhận thức, những tình cảm,… của mình đối với cuộc sống và con người. Do đó, trong quá trình nghị luận, người viết không chỉ tiếp xúc với văn bản tác phẩm mà còn cần phải tìm hiểu, xem xét các yếu tố ngoài văn bản như bối cảnh xã hội, trào lưu văn học, hoàn cảnh sáng tác,… để có thể đưa ra những lí giải thấu đáo. Ví dụ Bàn về số phận của người nông dân Việt Nam trong các tác phẩm Lão Hạc Nam Cao, Tắt đèn Ngô Tất Tố cần liên hệ với hoàn cảnh xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 để ,lí giải vì sao các nhân vật lão Hạc, chị Dậu bị đẩy vào con đường cùng quẫn, bế tắc. Khi phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ Khi con tu hú cần liên hệ với hoàn cảnh người tù cộng sản đang bị giam cầm nơi ngục tù, trong khi cuộc đấu tranh cách mạng ở bên ngoài đang diễn ra sục sôi,… để lí giải tâm trạng khao khát muốn được thoát khỏi ngục tù, vượt ra ngoài với bầu trời tự do của nhân vật trữ tình. Hoặc khi phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ cần liên hệ với hoàn cảnh sáng tác nhà thơ Thanh Hải viết bài thơ này trong những ngày cuối cùng của cuộc đời, khi ông đang nằm trên giường bệnh để khẳng định ý nghĩa sâu sắc và cảm động của khát vọng sống và cống hiến của một con người dù là lúc tuổi đôi mươi hay là “khi tóc bạc” và cận kề cái chết vẫn muốn được làm một “mùa xuân nho nhỏ” để “lặng lẽ dâng cho đời”. - Cùng với việc giảng giải, phân tích, cần liên hệ mở rộng và vận dụng thao tác so sánh cũng như khả năng cảm thụ văn chương và vốn tri thức về nhiều lĩnh vực để khái quát, tổng hợp nên những kết luận, đánh giá nhằm khẳng định ý nghĩa của vấn đề cần nghị luận. Ví dụ Khi phân tích hình ảnh người chiến sĩ trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu, cần đặt bài thơ vào hoàn cảnh đất nước trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; liên hệ, so sánh với những thành công, hạn chế của dòng thơ viết về anh bộ đội lúc bấy giờ để đánh giá được những đóng góp đáng ghi nhận của nhà thơ Chính Hữu. - Trong bài nghị luận văn học, hệ thống luận điểm cần rõ ràng, mạch lạc; các luận cứ đưa ra phải đúng đắn, sinh động; lập luận phải chặt chẽ, thuyết phục. Các ý trong bài văn được sắp xếp theo một trình tự hợp lí, liên kết thành một hệ thống chặt chẽ, mạch lạc. Bài văn nghị luận văn học vừa yêu cầu tính cụ thể, thuyết phục của nhũng luận cứ, vừa đòi hỏi tính khái quát của các luận điểm. Nếu sa vào liệt kê dẫn chứng cụ thể mà không rút ra được những nhận định, đánh giá khái quát thì sẽ không làm nổi bật được vấn đề cần nghị luận và không gây được ấn tượng cho người đọc. Do vây, việc kết hợp linh hoạt, tự nhiên giữa phân tích, bình giảng,… các chi tiết, hình ảnh cụ thể với nhận xét, đánh giá khái quát vừa là phương pháp tư duy, vừa là kĩ năng làm bài mà HS cần rèn luyện. - Cách diễn đạt trong bài nghị luận văn học cần chuẩn xác, trong sáng, thê hiện những rung cảm chân thành, tự nhiên của người viết. Khi viết một bài văn nghị luận văn học, yêu cầu đặt ra không chỉ ở chỗ viết cái gì mà quan trọng còn là viết như thế nào, bằng thái độ, tình cảm ra sao. Cần cân nhắc từ cách dùng từ đến cách đặt câu, dựng đoạn. Ngôn từ, giọng văn phải làm sao vừa phù hợp với thể văn nghị luận, vừa diễn tả được các cung bậc cảm xúc của người viết. Cần lưu ý rằng cách thể hiện cảm xúc thông qua ngôn ngữ diễn đạt trong nghị luận văn học không giống với văn miêu tả, văn biểu cảm với các câu cảm thán kiểu “Chao ôi!”, “Đẹp làm sao!”,… mà phải là những rung cảm trong tâm hồn người viết, được hình thành trong quá trình người viết tiếp xúc và cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm. 3. Các dạng bài nghị luận văn học lớp 9 Nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích Trong nghị luận văn học có một kiểu bài khá quen thuộc nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích. Đối tượng nghị luận của kiểu bài này là các tác phẩm tự sự có thể là tác phẩm trọn vẹn hoặc đoạn trích, sau đây gọi chung là tác phẩm truyện. a. Hình thức nghị luận - Nghị luận về tác phẩm truyện khá phong phú, có thể bao gồm + Phân tích tác phẩm truyện phàn tích giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của truyện hoặc một đoạn trích; phân tích nhân vật; phân tích một đặc điểm nội dung hay nghệ thuật của tác phẩm truyện hoặc đoạn trích;…; + Phát biểu cảm nghĩ vể tác phẩm truyện cảm nghĩ về tác phẩm đoạn trích; cảm nghĩ về một nhân vật; cảm nghĩ về một chi tiết đặc sắc;…; + Bình luận về tác phẩm truyện bình luận về một nhân vật, một chủ đề của tác phẩm truyện,…. - Việc phân định, tách bạch ranh giới giữa các hình thức nghị luận nêu trên chỉ là tương đối, trong thực tế có thể đan xen các hình thức nói trên. Tuỳ vào từng yêu cầu cụ thể của đề bài mà xác định mức độ, phạm vi, hình thức nghị luận chính cũng như sự kết hợp các hình thức nghị luận khác. b. Các bước triển khai bài văn nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích - Xây dựng dàn ý + Mở bài Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nêu ý kiến đánh giá chung nhất vể tác phẩm truyện hoặc đoạn trích được nghị luận. Hoặc Giới thiệu nội dung nghị luận; dẫn ra tác phẩm cẩn nghị luận. + Thân bài Hệ thống luận điểm của bài văn nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đóạn trích có thể được hình thành dựa trên Nội dung được tác giả đề cập tới trong tác phẩm hoặc đoạn trích. Giá trị của tác phẩm hoặc đoạn trích bao gồm giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật; nếu bàn về giá trị nội dung thì tập trung vào giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo,…; nếu bàn về giá trị nghệ thuật thì tập trung vào kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ, tình huống,…. Trong quá trình triển khai luận điểm, cần sử dụng một hệ thống luận cứ phong phú, xác đáng để minh hoạ nhằm tăng thêm độ tin cậy và sức thuyết phục cho những ý kiến đánh giá về tác phẩm. + Kết bài Nêu khái quát nhận định, đánh giá chung về tác phẩm truyện đoạn trích. - Triển khai luận điểm Các luận điểm có thể được triển khai theo hình thức diễn dịch, quy nạp hoặc tổng- phân- hợp,… Cần bám sát những chi tiết, những hình ảnh được coi là đặc sắc, có giá trị nhất trong tác phẩm để khai thác. Khi làm bài, cần thể hiện những suy nghĩ, những cảm xúc riêng được hình thành trong quá trình tiếp cận, khám phá tác phẩm. - Viết thành bài văn hoàn chỉnh Để bài văn có tính liên kết chặt chẽ giữa các phần, các đoạn, cần quan tâm sử dụng các hình thức chuyển ý có thể thông qua các từ ngữ chuyển tiếp như mặt khác, bên cạnh đó, không chì… mù còn… hoặc chuyển ý thông qua các câu văn có ý nghĩa liên kết giữa các đoạn. c. Một số điểm cần lưu ý khi viết bài văn nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích - Nhận xét, đánh giá về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cần rõ ràng, chính xác, có lập luận thuyết phục xuất phát những đánh giá về giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của tác phẩm hoặc đoạn trích. Những nhận xét, đánh giá này có thể hình thành từ nhiều nguồn khác nhau từ những rung động, xúc cảm của bản thân người viết khi tiếp cận và khám phá tác phẩm; từ những nhận xét, đánh giá của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học,… Việc phối hợp, dung hoà các điểm nhìn, các ý kiến trên sẽ góp phần làm cho nội dung nhận xét, bình luận về tác phẩm thêm xác đáng, sâu sắc, toàn diện, tránh được sự suy diễn theo ý chủ quan của người viết. Các nhận xét, đánh giá ấy phải được thể hiện thành những luận điểm và sắp xếp theo một trình tự chặt chẽ, lô-gíc. - Trong quá trình nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích, cần sử dụng phương pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu liên hệ với cuộc đời và phong cách sáng tác của tác giả, hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm; liên hệ, so sánh, đối chiếu với các tác phẩm khác cùng đề tài, cùng chủ đề;…. Nếu nghị luận về một đoạn trích của tác phẩm truyện thì phải đặt đoạn trích ấy trong mối quan hệ với chỉnh thể tác phẩm về cả kết cấu nghệ thuật cũng như nội dung chủ đề, trên cơ sở đó mà phân tích, đánh giá, khẳng định vị trí, vai trò của đoạn trích trong việc thể hiện chủ đề của tác phẩm. - Lời văn trong bài nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích phải vừa linh hoạt, khúc chiết, chặt chẽ để đảm bảo đặc trưng của văn nghị luận, vừa phải có sự uyển chuyển, tinh tế cho phù hợp với đối tượng nghị luận là tác phẩm văn học. Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là trình bày nhận xét, đánh giá của người viết về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ ấy. Hình thức chính của kiểu bài nghị luận này là phân tích hoặc bình giảng. a. Các bước triển khai bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ - Lập dàn ý + Mở bài Giới thiệu tác giả, tác phẩm và đưa ra ý kiến khái quát nhất thể hiện cảm nhận và suy nghĩ của người viết về đoạn thơ, bài thơ. Hoặc Giới thiệu đề tài hoặc chủ đề và vị trí của mảng đề tài hoặc chủ đề ấy trong dòng chảy văn học, trên cơ sở đó dẫn ra tác phẩm và nêu nhận xét, đánh giá chung. + Thân bài Triển khai các luận điểm chính của bài viết. Các luận điểm cần được sắp xếp theo trình tự hợp lí, có hệ thống và đảm bảo tính liên kết. + Kết bài Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ; từ đó nhấn mạnh ý nghĩa của đoạn thơ, bài thơ đối với sự nghiệp sáng tác của tác giả, đối với nền văn học và đối với bạn đọc… - Triển khai luận điểm + Mỗi luận điểm nên viết thành một đoạn văn và cần lựa chọn cách triển khai đoạn văn hợp lí diễn dịch, quy nạp hoặc tổng- phân- hợp,…. Trong đoạn văn triển khai luận điểm, các luận cứ phải cụ thể, rõ ràng kèm theo các dẫn chứng minh hoạ sinh động. Lời văn phải thể hiện được cảm xúc của người viết đối với đối tượng nghị luận đoạn thơ, bài thơ. + Trong quá trình triển khai luận điểm, cần chú ý Việc trích dẫn thơ để minh hoạ cho ý kiến nhận xét, đánh giá phải có sự chọn lọc, tránh trích dẫn tràn lan. Những câu thơ, đoạn thơ trích dẫn phải được phân tích, bình giảng để làm nổi bật cái hay, cái đẹp, cái độc đáo. Có thể vận dụng haì hình thức trích dẫn thơ dẫn trực tiếp trích nguyên vẹn cả câu thơ, đoạn thơ hoặc dẫn gián tiếp nêu ý của lời thơ. b. Một số lưu ý khi viết bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ - Trong quá trình nghị luận để rút ra những nhận xét, đánh giá về tư tượng, tình cảm cũng như giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ, HS cần thể hiện được năng lực cảm thụ văn chương khả năng thẩm bình để tìm được cái hay, cái đẹp của thơ và khả năng diễn đạt, tạo lập văn bản vừa súc tích, chặt chẽ, thể hiện chính kiến của người viết yếu tố nghị luận lại vừa gợi cảm, sinh động, thể hiện sự rung động đối với tác phẩm yếu tố văn chương. - Thơ thuộc phương thức trữ tình, là cách biểu đạt bằng lời trực tiếp của chủ thể trữ tình, được thể hiện dưới hình thức cái tôi trữ tình hoặc hoá thân vào một nhân vật trữ tình. Do đó, nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần khai thác được mạch cảm xúc và tư tưởng của cúi tôi trữ tình trong tác phẩm. Muốn vậy, cần nhận ra được đó là lời của ai, tức là xác định chủ thể trữ tình trong dạng nhân vật trữ tình nào. Sự nhận biết này thường thông qua hệ thống ngôn từ, giọng điệu, qua những từ ngữ dùng để xưng hô trong bài thơ nhân vật người cháu trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt; tôi – ta trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải… ; hoặc là sự hoá thân của nhà thơ vào một nhân vật trữ tình để thể hiện tâm trạng nhân vật – còn gọi là cái tôi nhập vai bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận…. Có trường hợp, trong bài thơ, ngoài cái tôi trữ tình chủ thể còn có một vài nhân vật khác, là đối tượng giao tiếp và đối tượng cảm xúc của chủ thể trữ tình người bà trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt, vầng trăng trong bài Ánh trăng của Nguyễn Duy…. Và nhiều khi, cái tôi trữ tình lại có vai trò là đường viền để làm nổi bật nhân vật được gọi là đối tượng cảm xúc của chủ thể trữ tình này Bếp lửa. - Kết cấu là yếu tố thứ hai cần khai thác trong kiểu bài nghị luận về một bài thơ. Có nhiều cách kết cấu đối với tác phẩm trữ tình, nhưng về cơ bản thì kết cấu bài thơ chính là mạch diễn biến tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình. Nếu bố cục của một bài thơ là hình thức tổ chức bề mặt của nó có thể chia tách được thành các khổ, các đoạn thơ thì kết cấu lại là toàn bộ tổ chức phức tạp của bài thơ, bao gồm mọi yếu tố và tầng bậc của tác phẩm. Kết cấu chi phối việc tổ chức mọi yếu tố của tác phẩm ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu, cảm xúc,… nhưng yếu tố cơ bản quy định kết cấu bài thơ lại chính là mạch diễn biến của cảm xúc, thể hiện thông qua hệ thống ngôn ngữ, hình tượng thơ. Nói đến kết cấu, cũng cần đề cập tới hai khái niệm tứ và cấu tứ. Hiểu một cách đơn giản, tứ là sự hoá thán của ý tưởng và cảm xúc vào hình tượng thơ; còn cấu tứ là cách tổ chức tứ thơ. Một tứ thơ hay phải là tứ thơ tạo ra sự mới lạ, độc đáo, đem lại cho độc giả những bất ngờ thú vị thông, quạ việc tạo .tình huống nghệ thuật. Ví dụ Bài Ánh trăng có tứ thơ độc đáo xoay quanh hai nhân vật chính là người và trăng, và sự thay đổi trong; mối quan hệ giữa hai nhân vật này được đặt trong các chặng thời gian khác nhau Thuở nhỏ, thời chiến tranh ở rừng; thời hoà bình về thành phố… Để rồi trong tình huống bất ngờ “Thình lình đèn điện tắt”, vầng trăng tình nghĩa đột ngột xuất hiện đối diện với tình, như là sự khơi gợi, nhắc nhớ về nghĩa tình, về sự thuỷ chung đối với quê hương, đồng đội, với nhân dân, với quá khứ… - Ngôn ngữ thơ là yếu tố thứ ba cần được quan tâm khai thác trong quá trình nghị luận đối với tác phẩm trữ tình. Trong thơ, ngôn ngữ có chức năng biểu hiện, cụ thể là tâm trạng, cảm xúc, suy tư của chủ thể trữ tình. Khi phân tích ngôn ngữ thơ, cần chú ý khai thác các biện pháp nghệ thuật tu từ so sánh, ẩn dụ, điệp từ, điệp ngữ, câu hỏi tu từ,…,… - Để sự phân tích, đánh giá, nhận xét thêm sâu sắc, người viết có thể viện dẫn ý kiến của người khác thường là ý kiến của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học. Đồng thời, trong khi phân tích, đánh giá đoạn thơ, bài thơ, cần có sự lịên hệ, so sánh, đối chiếu với những câu thơ, đoạn thơ, bài thơ khác cùng đề tài có thể của cùng tác giả hoặc của tác giả khác để nội dung phân tích, bàn luận được sâu sắc, toàn diện hơn. 4. Những lưu ý quan trọng để đạt điểm cao bài nghị luận văn học lớp 9 Đọc nhiều để trau dồi vốn từ ngữ phong phú Với trên 10 năm kinh nghiệm giảng dạy bộ môn Ngữ văn, thầy Nguyễn Phi Hùng cho rằng một trong những vấn đề mấu chốt giúp học sinh viết văn hay cũng như có khả năng cảm thụ tốt đó là nhờ vào vốn từ ngữ phong phú. Bên cạnh đó học sinh phải có vốn hiểu biết rộng, nghĩa là phải biết quan sát đời sống xung quanh, các hiện tượng thực tế và từ đó suy ngẫm về chúng để tích lũy vốn sống cho mình. Thầy Hùng chia sẻ “Văn học là nghệ thuật của ngôn từ, văn chương được cấu tạo từ chất liệu là từ ngữ, các câu văn và các đoạn văn. Do đó để viết văn hay thì chúng ta cần phải có sự tích lũy vốn từ ngữ sao cho thật phong phú và giàu có. Để tích lũy vốn từ ngữ một cách bài bản, đầy đủ và có hệ thống thì thầy khuyên các con phải đọc thường xuyên. Đọc để biết cách dùng từ, các cấu trúc câu hay cách diễn đạt ấn tượng, vì thế khi đọc chúng ta phải có ý thức tìm hiểu và gom góp vốn từ thì những từ ngữ đó mới lưu lại trong đầu của mình.” Vì vậy trong quá trình đọc học sinh cần lựa chọn nên đọc cái gì, với học sinh thì nên ưu tiên đọc sách về tác phẩm văn học để tiếp thu kiến thức, vốn từ cũng như gia tăng khả năng cảm thụ tác phẩm văn học. Ngoài ra để mở rộng phạm vi vốn từ ngữ thì học sinh nên đọc thêm báo, tạp chí và sách tham khảo liên quan đến văn học; thường xuyên xem thời sự để cập nhật các vấn đề mới của xã hội. Xác định đúng yêu cầu của đề, viết đúng chủ đề Một bài văn nghị luận văn học được đánh giá là hay thì trước hết phải viết đúng chủ đề và phải bám sát vào tác phẩm văn học mà đề yêu cầu, các luận điểm phải nêu bật được chủ đề chính của bài văn. Ví dụ đề yêu cầu là phân tích tinh thần yêu nước của nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “Làng” của Kim Lân thì học sinh phải gắn liền nhân vật với tác phẩm để phân tích và đưa ra các dẫn chứng là các trích đoạn trong tác phẩm để làm sáng tỏ cho luận điểm của mình và thuyết phục được người đọc. Hoặc đối với tác phẩm thơ cũng tương tự như vậy, nên có trích dẫn thơ và bám sát vào đó để đưa ra ý kiến bình luận, diễn giải ý. Một vấn đề đặc biệt quan trọng mà các em phải lưu ý trong quá trình học và viết văn là phải làm sao để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, nghĩa là phải dùng từ sao cho chuẩn, có nghĩa và dễ hiểu. Ngoài ra trong quá trình viết văn đảm bảo bài văn đúng chủ đề, đầy đủ ý, các câu văn và đoạn văn mạch lạc, có sự liên kết với nhau, muốn bài văn thu hút được người đọc người nghe thì cần phải có khâu lập dàn ý. Việc lập dàn ý có thể làm phác thảo nhanh trên giấy, còn với những học sinh có kỹ năng và năng khiếu viết văn tốt thì có thể lập dàn ý trước ở trong đầu. Tránh trường hợp đặt bút viết bừa theo cảm hứng sẽ khiến bài văn bị lan man, dễ lạc đề. Nắm chắc các kỹ năng cơ bản Ngoài kiến thức và vốn từ ngữ thì học sinh phải có các kỹ năng cơ bản để viết bài văn hay và thuyết phục. Ví dụ Với một tác phẩm thơ thì cần phải tìm hiểu các hình ảnh thơ, từ ngữ, nhịp điệu, cách gieo vần, biện pháp nghệ thuật của bài thơ. Để từ đó tìm ra được cảm xúc của nhân vật trữ tình và ý tứ mà tác giả gửi gắm trong bài thơ. Còn với một tác phẩm văn xuôi thì cần tập trung vào phân tích nhân vật, nghệ thuật kể chuyện, các chi tiết trong tác phẩm. Để từ đó làm sáng rõ tư tưởng, chủ đề của tác phẩm đó. Tóm lại với mỗi một thể loại văn học, một tác phẩm cụ thể thì học sinh cần phải biết vận dụng thao tác phù hợp để làm nổi bật được cái hay, cái đẹp của tác phẩm cũng như giá trị văn học của chúng. Từ đó mới thuyết phục được người đọc, người nghe. Luyện viết nhiều Để viết văn tốt, tiến bộ nhanh thì học sinh phải thường xuyên luyện tập, viết nhiều, đọc nhiều sẽ giúp tăng vốn từ cũng như khả năng diễn đạt, kết hợp các phương pháp làm văn thuần thục hơn. Đặc biệt, trong quá trình viết, các em cũng thấy được những hạn chế của bản thân để khắc phục, triển khai bài tốt hơn trong các bài viết sau.
1. Giới thiệu văn mẫu Nghị luận xã hội lớp 9 Trong những năm gần đây kiểu văn nghị luận xã hội đã được chú trọng trong các nhà trường trung học. Bởi văn nghị luận đã trở thành tiêu chí đánh giá đối với học sinh không chỉ trong những bài kiểm tra, thi học sinh giỏi, thi vào lớp 10 và ngay cả thi tốt nghiệp THPT rồi đến kì thi Đại học. Sự chuyển biến này là cơ hội và cũng là thách thức đối với học sinh. Một thời gian khá dài, làm văn trong nhà trường chỉ tập trung vào nghị luận văn học khiến cho học sinh cảm thấy văn chương xa rời thực tế cuộc sống. Rèn luyện văn nghị luận xã hội giúp học sinh không chỉ hoàn thiện kĩ năng trình bày quan điểm của mình, mà còn cung cấp tri thức vô cùng phong phú về những vấn đề xã hội. Thế nhưng thách thức đặt ra đối với học sinh và giáo viên cũng không phải là nhỏ. Học sinh quá quen với tư duy văn học, kiến thức về xã hội còn hạn chế, tài liệu tham khảo nghị luận xã hội không nhiều, kĩ năng làm bài chưa thuần thục, dung lượng một bài không được quá dài, chỉ được viết trong một thời gian ngắn về một vấn đề trong cuộc sống chứ không phải cố định ở một văn bản trong sách giáo khoa...Tất cả những điều đó tạo nên áp lực, gây khó khăn cho học sinh. Hiểu được những khó khăn và áp lự của các em. eLib đã biên soạn hệ thống những bài văn mẫu nghị luận xã hội hay nhất năm 2020. Mời các em tham khảo nội dung từng bài văn chi tiết ở Menu bên trái đối với PC và Menu ở trên đối với Mobile. 2. Cách làm bài văn Nghị luận xã hội lớp 9 Kiểu bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống - Mở bài + Giới thiệu về vấn đề, hiện tượng đời sống mà đề cần bàn luận. + Mở ra hướng giải quyết vấn đề cần bàn trong bài, thường là trình bày suy nghĩ của bản thân. Sau đó dẫn dắt đến phần thân bài một cách ấn tượng. - Thân bài + Giải thích, nêu thực trạng về hiện tượng, đời sống mà đề đã cho. Tìm và giải thích nghĩa của các từ được coi là từ khóa mà đề bài đưa ra. Tuy nhiên không phải sự việc nào cũng cần giải thích vì có những khái niệm phổ biến mà ai cũng biết như tai nạn giao thông, nói tục chửi thề,... Chỉ giải thích những từ khóa có vấn đề. Thực trạng Nêu thực trạng của hiện tượng, đời sống đó từ thực tế cuộc sống, cần nêu dẫn chứng cụ thể từ đời sống, lấy thông tin trên các phương tiện truyền thông. Dựa vào thực tế đời sống để trả lời các câu hỏi sự việc, hiện tượng này xuất hiện ở đâu, xuất hiện vào thời gian nào, diễn ra ở quy mô nào, đối tượng của sự việc hiện tượng là ai, mức độ ảnh hưởng ra sao,... Làm nổi bật được các vấn đề cần bàn bạc trong bài. + Nêu nguyên nhân và lí giải nguyên nhân dẫn đến hiện tượng, đời sống mà đề yêu cầu Nguyên nhân khách quan thiếu vắng mối quan tâm, sự giáo dục của gia đình và nhà trường. Những ảnh hưởng của phim ảnh, intrernet, sự tràn lan của lối sống cá nhân thích làm nổi, thích gây sốc để nhiều người biết đến,... Chủ quan Nhiều thanh thiếu niên tuy được sinh ra và lớn lên ở môi trường giáo dục tốt nhưng lại có suy nghĩ và hành động lệch lạc, bởi họ không có ý thức hoàn thiện mình cũng như tự bồi đắp tâm hồn mình bằng những cách cư xử có văn hóa. => Các em cần lập luận theo hai hướng nguyên nhân khách quan tác động từ bên ngoài như pháp luật, nhà nước, xã hội,... và nguyên nhân chủ quan do nhận thức, ý thức, thói quen của con người,.... + Nêu hậu quả của hiện tượng Gây xôn xao, bất bình trong dư luận, làm tổn thương, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, đi ngược lại truyền thống đạo lí tốt đẹp "Uống nước nhớ nguồn"..., tác động không tốt đến giới trẻ. Bản thân người trong cuộc phải gánh chịu những lên án, bất bình của dư luận xã hội,... => Các em cần khẳng định dù là hiện tượng tích cực hay tiêu cực thì đều dẫn đến một kết quả hay hậu quả tương ứng. Nếu đó là hiện tượng xấu thì cần nhấn mạnh khía cạnh đạo đức, nâng cao nhận thức, ý thức của con người để giảm thiểu, loại bỏ hiện tượng đó khỏi đời sống xã hội. + Giải pháp khắc phục Nâng cao nhận thức ở giới trẻ nhà trường và đoàn thanh niên cần thường xuyên tổ chức các diễn đàn để tuyên truyền, giáo dục thanh niên về lối sống đẹp. Những hình ảnh phản cảm cần được dư luận phê phán quyết liệt, gia đình và nhà trường phải nghiêm khác, nhắc nhở,... Lưu ý các em cần đưa dẫn chứng thực tế để chứng minh. => Dựa vào phần đánh giá hậu quả/ kết quả để đưa ra giải pháp phù hợp. Đối với hậu quả thì phải đưa ra giải pháp mạnh mẽ để ngăn chặn; nếu là kết quả thì phải khuyến khích, cổ vũ, khích lệ và phát triển. - Kết bài Bày tỏ ý kiến riêng về hiện tượng, đời sống mà đề yêu cầu. Thấy rõ sự cần thiết phải tích cực trau dồi nhân cách, bồi đắp nững giá trị đạo đức, văn hóa, đặc biệt là đạo lí của lối sống đẹp và nhân văn. Kiên quyết lên án và ngăn chặn những biểu hiện của lối sống vô cảm, thiếu văn hóa để xã hội lành mạnh, tiến bộ hơn. Kiểu bài văn Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí - Mở bài + Dẫn dắt, giới thiệu vào vấn đề tư tưởng, đạo lý cần bàn luận mà đề đã cho. + Tiếp tục dẫn dắt vấn đề từ phần mở bài đến phần thân bài một cách ấn tượng nhất. - Thân bài Giải thích những nội dung, từ khóa quan trọng Giải thích tư tư tưởng, đạo lí là gì? Cần giải thích những từ trọng tâm, sau đó giải thích cả câu nói giải thích các từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm, nghĩa đen, nghĩa bóng nếu có; rút ra ý nghĩa chung của tư tưởng, đạo lý; quan điểm của tác giả qua câu nói về tư tưởng, đạo lí đã cho. => Nhìn chung, phần này thường trả lời cho câu hỏi là gì, như thế nào... Trước hết, người viết cần tìm và giải thích nghĩa của các từ được coi là từ khóa; nếu đặt nó vào hoàn cảnh cụ thể trong cả câu nói thì nó biểu hiện ý nghĩa gì. Qua đó rút ra ý nghĩa chung của tư tưởng đạo lý, quan điểm của tác giả thể hiện thế nào qua câu nói. + Bàn luận về vấn đề tư tưởng, đạo lí mà đề đã cho Phân tích và chứng minh các mặt đúng của tư tưởng, đạo lý thường trả lời câu hỏi tại sao nói như thế? Dùng dẫn chứng cuộc sống xã hội để chứng minh. Từ đó chỉ ra tầm quan trọng, tác dụng của tư tưởng, đạo lý đối với đời sống xã hội. Bác bỏ phê phán những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến tư tưởng, đạo lý vì có những tư tưởng, đạo lý đúng trong thời đại này nhưng còn hạn chế trong thời đại khác, đúng trong hoàn cảnh này nhưng chưa thích hợp trong hoàn cảnh khác; dẫn chứng minh họa. => Tóm lại, học sinh trả lời câu hỏi tại sao vấn đề này lại đúng hoặc không đúng, không phù hợp, đồng thời dùng dẫn chứng thực tiễn để chứng minh lập luận của mình, giúp phần bàn luận sâu sắc và thuyết phục người đọc, người chấm thi. + Mở rộng vấn đề về tư tưởng, đạo lí mà đề đã cho như sau Mở rộng bằng cách giải thích và chứng minh. Mở rộng bằng cách đào sâu thêm vấn đề. Mở rộng bằng cách lật ngược vấn đề. Người tham gia nghị luận đưa ra mặt trái của vấn đề, phủ nhận nó là công nhận cái đúng, ngược lại, nếu vấn đề bình luận là sai hãy lật ngược bằng cách đưa ra vấn đề đúng, bảo vệ cái đúng cũng có nghĩa là phủ định cái sai. Trong các bước mở rộng, tuỳ vào từng trường hợp và khả năng của mình mà áp dụng cho tốt, không nên cứng nhắc. => Cần lưu ý khi Đánh giá xem vấn đề đó đúng hay sai, còn phù hợp với thời đại ngày nay hay không, có tác động thế nào đến cá nhân người viết, ảnh hưởng thế nào đến xã hội nói chung. + Bài học nhận thức và hành động Phải là bài học nhận thức và hành động theo hướng tích cực. Đầu tiên là bài học rút ra cho bản thân người viết rút ra bài học gì, bản thân đã làm được chưa, nếu chưa thì cần làm gì để đạt được.... Tiếp theo, đối với gia đình, những người xung quanh và xã hội thì bài học nhận thức là gì, thuyết phục mọi người cùng áp dụng và hành động. Bài học phải được rút ra từ chính tư tưởng đạo lý mà đề yêu cầu, phải hướng tới tuổi trẻ, phù hợp và thiết thực với tuổi trẻ, tránh chung chung, trừu tượng. Nên rút ra hai bài học, một về nhận thức, một về hành động. Bài học cần được nêu chân thành, giản dị, tránh hô khẩu hiệu. => Tóm lại, các em cần Tuân thủ các bước, thẳng thắn nhìn nhận vấn đề và đưa ra dẫn chứng thực tế, kết hợp sử dụng thêm câu châm ngôn, tục ngữ, ca dao để cho thấy kinh nghiệm sống phong phú, có hiểu biết sâu rộng cả trong quá khứ và hiện tại, bài viết của các em sẽ được đánh giá tốt và đạt điểm cao. - Kết bài + Đánh giá ngắn gọn, khái quát về tư tưởng, đạo lý đã bàn luận. + Phát triển, liên tưởng, mở rộng, nâng cao vấn đề. 3. Những lưu ý trong cách làm bài văn nghị luận xã hội Nắm vững yêu cầu của đề - Trước khi làm bài, học sinh cần đọc kỹ đề bài, phải chú ý từng từ ngữ, hiểu ý nghĩa của từng từ, từng câu; học sinh chú ý cả những dấu chấm hay ngắt câu trong đề bài để nắm rõ yêu cầu của đề bài. - Đối với đề bài văn nghị luận xã hội lấy kiến thức, thông tin và cả những kinh nghiệm có trong cuộc sống để minh chứng cho lý lẽ của mình. Do vậy đòi hỏi học sinh cần có một kiến thức sống khá phong phú; có sự tinh tế và nhạy bén trong nhận định một vấn đề. Để làm tốt, học sinh phải thường xuyên thu nhận thông tin hàng ngày trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Ghi chép lại những thông tin cần thiết làm tài liệu cho riêng mình chú ý phải ghi nguồn xuất xứ thông tin để chú thích khi trích dẫn vào bài làm. Tất nhiên khi đưa dẫn chứng vào bài làm, học sinh phải sàng lọc chi tiết có liên quan, tránh dẫn chứng tràn lan, đi lệch hay đi quá xa vấn đề cần phân tích hay chứng minh. Đối với đề bài văn nghị luận văn học, dạng đề này đòi hỏi học sinh phải lấy kiến thức đã được truyền thụ tại lớp học; những tư liệu có từ các bài đọc thêm hay sách vở; tư liệu sưu tầm từ các nguồn khác để minh chứng cho lập luận mà mình cần chứng minh hay phân tích. Nguồn kiến thức này tuyệt đối không được sai, không được tự sáng tác; tránh lấy “râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Phương pháp làm bài - Sau khi nhận đề học sinh tuyệt đối không nên làm bài ngay, sẽ dễ bị lạc đề. Điều trước tiên là các em dùng bút nên dùng bút chì gạch dưới những từ ngữ quan trọng có trong đề bài để trên cơ sở đó bám sát yêu cầu của đề trong quá trình làm bài và tránh được lạc đề. Hiểu rõ và đúng nghĩa các từ này. Sau khi nắm vững yêu cầu của đề, các em tập trung cho công việc lập dàn bài chi tiết. Đọc đi đọc lại dàn bài để tìm xem có còn thiếu sót để bổ sung thêm. Tiếp theo tìm dẫn chứng để minh họa hoặc lồng ghép các minh chứng có liên quan vào các lý lẽ phân tích của mình. Dẫn chứng càng phong phú có chọn lọc, tránh tham lam và độc đáo sẽ nâng chất lượng bài làm của mình lên. Tránh viết lan man và quá dài gây nhàm chán, lạc lõng dễ đi đến việc phân tích không sát chủ đề. Những bài làm như thế này chắc chắn không thể đạt điểm trung bình, nếu không nói là điểm kém. Ngoài ra, phong cách thể hiện là văn phong của mỗi học sinh là điều vô cùng quan trọng, các em cần thể hiện sự sáng tạo trong bài làm. Cách viết hay cách thể hiện khác lạ dễ gây chú ý giám khảo, nếu sự khác lạ đó độc đáo chắc chắn các em sẽ đạt điểm cao. Hình thức đoạn văn - Đoạn văn phải đảm bảo đúng dung lượng theo yêu cầu của đề bài, thông thường là 200 chữ khoảng 20 tới 23 dòng, tránh viết quá dài hoặc quá ngắn. Đoạn văn có thể tùy ý lựa chọn các cấu trúc song hành, móc xích, quy nạp, diễn dịch hay tổng phân hợp,... nhưng phải đúng cấu trúc đoạn văn Không xuống dòng giữa đoạn; đoạn văn bắt đầu bằng chữ cái viết hoa và lùi vào một chữ ở đầu dòng và kết thúc bằng dấu ngắt câu - có thể là dấu chấm, chấm than, ba chấm hoặc chấm hỏi tùy theo kiểu câu phù hợp với nội dung kết đoạn. Nội dung đoạn văn Để xác định đúng nội dung nghị luận, các em cần phân biệt bài văn nghị luận xã hội với đoạn văn nghị luận xã hội. Nếu bài văn nghị luận về một vấn đề chủ đề - ý lớn trong cuộc sống xã hội thì đoạn văn chỉ nghị luận trọn vẹn một khía cạnh của vấn đề tiểu chủ đề - ý nhỏ. Điều các em cần lưu ý là tuyệt đối không triển khai hệ thống ý nghị luận của tổng thể vấn đề khiến đoạn văn trở thành bài văn thu nhỏ. 4. Cách làm bài văn nghị luận xã hội đạt điểm cao Nắm được dạng bài nghị luận xã hội Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo luôn ra đề thi tốt nghiệp môn Ngữ văn theo hướng mở nhằm đánh giá được năng lực và phân loại trình độ của học sinh, nhất là ở mảng câu hỏi nghị luận xã hội. Điều này cũng giúp học sinh có khả năng vận dụng được những hiểu biết thực tế vào bài viết của mình. Tuy nhiên, nhiều năm qua, vẫn có hiện tượng thí sinh làm xa đề, lạc đề, lan man,… Vì vậy, việc xác định kiểu dạng đề thi nghị luận là rất cần thiết, tránh cho thí sinh đi lạc hướng và làm sai đề. Muốn vậy, mỗi thí sinh phải đọc kỹ đề bài, chú ý những từ ngữ để nhận kiểu, dạng bài văn. Thông thường, ta dễ bắt gặp 2 kiểu, dạng đề đó là nghị luận về một tư tưởng, đạo lý và nghị luận về một hiện tượng đời sống xã hội. Lập dàn ý theo bố cục của từng dạng đề nghị luận - Sau khi xác định được kiểu, dạng đề nghị luận, chúng ta cần bắt tay nhanh vào việc lập dàn ý. Tuy nhiên, muốn lập dàn ý đầy đủ thì ta phải nắm được bố cục chung của từng kiểu bài văn nghị luận xã hội. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý thường đề cập tới những vấn đề về đạo đức, lối sống, quan điểm sống của các nhà tư tưởng lỗi lạc hay các danh nhân nổi tiếng. Dấu hiệu để nhận biết kiểu đề này thường là những câu nói trực tiếp để trong ngoặc kép của các nhà tư tưởng, các danh nhân nổi tiếng hay là một câu thơ, một ý kiến trích dẫn trong tác phẩm văn học,… - Về bố cục, trước hết phần mở bài, ta phải giới thiệu khái quát tư tưởng, đạo lý cần nghị luận. Phần thân bài cần giải thích các từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm. Sau đó, ta phân tích và chứng minh mặt đúng - sai của tư tưởng, đạo lý đó. Từ đó chỉ ra tầm quan trọng, tác dụng của tư tưởng, đạo lý đối với đời sống xã hội. Cuối cùng, ta cần phải bình luận mở rộng vấn đề có thể là bác bỏ những biểu hiện sai lệch, khẳng định tính đúng đắn. Tất cả những bước trên ta phải có dẫn chứng đi kèm nhằm tăng tính thuyết phục cho người nghe, người đọc. Phần kết bài cần đánh giá khái quát ý nghĩa tư tưởng đạo lý đã nghị luận và rút ra bài học nhận thức và hành động về tư tưởng đạo lý đó. Tích lũy kiến thức xã hội cần thiết và nắm bắt thông tin - Nhiều giáo viên khi chấm bài làm của thí sinh đều cho rằng số rất ít thí sinh làm bài tốt ở câu nghị luận xã hội. Bởi lẽ, ở trường học, các em còn quá lệ thuộc vào cách học khuôn mẫu, thiếu tư duy, sáng tạo. Do vậy để đạt điểm cao, ngoài kiến thức được học tại trường, các em phải có lượng hiểu biết về xã hội. Thí sinh có thể ủng hộ hay phản đối một quan niệm nào đó song phải có khả năng lập luận sắc bén và cách hành văn trôi chảy, có sức thuyết phục. Văn nghị luận xã hội khác với nghị luận văn học ở chỗ nó là những kiến thức được tích lũy và lấy ra từ cuộc sống hằng ngày. Vì vậy, bạn cần sự tìm kiếm, học hỏi và nắm bắt thông tin nhanh chóng. Muốn vậy, cần khai thác thông tin trên đài, báo, truyền hình hàng ngày; ghi chép lại những nhân chứng, bài học, tình huống hay và có ý nghĩa trong cuộc sốngđể làm tư liệu, dẫn chứng cho bài làm. Biết cách quản lý thời gian - Một bài nghị luận xã hội thường có yêu cầu về số lượng câu chữ nên thí sinh cần phân phối lượng thời gian làm bài sao cho phù hợp, tránh viết dài dòng, sa vào kể lể, giải thích vấn đề không cần thiết. Trên cơ sở dàn ý, chúng ta cần luyện cách viết và trình bày sao cho ngắn gọn, mạch lạc, dễ hiểu và có tính thuyết phục cao. Cách tìm dẫn chứng Để chứng minh một cách thuyết phục cho các luận điểm của một bài văn nghị luận xã hội, người viết phải sử dụng dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu về những người thật, việc thật. Đây là một công việc khá khó khăn đối với học sinh. Để giúp các em biết cách tìm dẫn chứng một cách tốt nhất, xin chia sẻ một số kinh nghiệm trong việc sưu tầm tư liệu phục vụ cho đề văn nghị luận xã hội. - Trong quá trình đọc sách báo, nghe tin tức trên các phương tiện thông tin đại chúng, cần ghi lại những nhân vật tiêu biểu, những sự kiện, con số chính xác về một sự việc nào đó. - Sau một thời gian tích luỹ cần chọn lọc, ghi nhớ và rút ra bài học ý nghĩa nhất cho một số dẫn chứng tiêu biểu. - Cần nhớ, một dẫn chứng có thể sử dụng cho nhiều đề văn khác nhau. Quan trọng là phải có lời phân tích khéo léo. Ví dụ lấy dẫn chứng về Bác Hồ hay BillGates vừa có thể dùng cho đề bài về tinh thần tự học, về tài năng của con người, hoặc vừa là đề bài về khả năng ý chí vươn lên trong cuộc sống hay về niềm đam mê, bài học về sự thành công, tấm gương về một lòng nhân ái.... Cần phát triển bài nghị luận xã hội theo hướng mở Trong những năm gần đây, đề thi môn Ngữ văn đã có nhiều thay đổi về cấu trúc cũng như nội dung. Xu hướng chung của các kì thi là ra đề theo hướng mở. Việc ra đề theo hướng mở đã góp phần phát huy trí thông minh, sáng tạo của học sinh trong việc học môn Ngữ văn. Nội dung của đề mở không chỉ là những vấn đề xã hội gần gũi, đời thường. Hiện nay cách ra đề nghị luận xã hội của các thầy cô giáo trong các kì kiểm tra hoặc thi cử sáng tạo, phong phú.
Nghị luận xã hội là câu hỏi thường gặp trong các đề thi tuyển sinh, thi học kì và đặc biệt là đề thi môn Ngữ văn THPT Quốc gia với nhiều dạng bài khác nhau như phân tích một hiện tượng đời sống, một một tư tưởng đạo chung, cấu trúc bài văn nghị luận xã hội sẽ không quá phức tạp, phù hợp với dung lượng đoạn văn 200 chữ. Để làm tốt một bài văn nghị luận xã hội, mời các em theo dõi bài viết dưới thêm Hướng dẫn cách viết đoạn văn nghị luận xã hội chuẩn cấu trúc 6 bước1, cấu trúc bài văn nghị luận xã hội chuẩn gồm bao nhiêu bước Một bài văn nghị luận xã hội chuẩn cấu trúc sẽ gồm 6 bước. Tùy theo mỗi dạng cũng như đề văn cụ thể, các em có thể điều chỉnh hoặc lược bỏ một số Đặc điểm và yêu cầu cho một bài nghị luận xã hội chuẩn cấu trúcThứ nhất, một bài văn nghị luận xã hội phải tuân theo những yêu cầu cơ bản của thể văn nghị luận, đó là xây dựng được một hệ thống luận điểm, luận cứ bao gồm lí lẽ và dẫn chứng. Bài văn cũng phải có được lập luận chặt luận điểm của bài Bài văn nghị luận xã hội phải nêu lên được những tư tưởng, quan điểm, ý kiến đặt ra trong bài, hướng tới giải quyết những vấn đề liên quan đến thực tiễn cuộc sống hoặc tư tưởng. quan điểm nào đó tùy theo các loại nghị luận xã hội khác nhau. Về mặt diễn đạt, các luận điểm của bài văn nghị luận xã hội phải được trình bày theo một hệ thống hay một thứ tự nhất định sao cho rõ ràng, nhất quán và cụ thểLuận cứ bao gồm các lí lẽ và dẫn chứng chứng minh cho luận điểm. Những luận cứ được sử dụng trong bài cần chân thực, có tính tiêu biểu, sinh động và được rút ra từ hiện thực đời sống. Người viết cần linh hoạt trong việc nhận thức, tìm hiểu, phân tích dẫn chứng để hoàn thiện cấu trúc bài văn nghị luận xã hội. Và cuối cùng, các lí lẽ và dẫn chứng cũng cần phải thể hiện được ý kiến cá nhân cũng như quan điểm riêng của bài viếtCác lập luận trong bài phải được xây dựng rõ ràng, hợp lí, theo một bố cục thống nhất của mỗi dạng nghị luận xã hội như là nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống, nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lý,…b cấu trúc đoạn văn nghị luận xã hội chung gồm 6 bước như sauBước 1 giải thích những từ ngữ trọng tâm khái niệm, nghĩa đen, nghĩa bóng nếu có. Sau đó giải thích ý nghĩa tổng quát như câu nói, nhận định, câu chuyện… được trích dẫn trong 2 Lần lượt bàn luận và phân tích các mặt đúng và mặt sai của vấn đề từ phạm vi rộng đến phạm vi hẹp hoặc ngược lạiBước 3 Phân tích những nguyên nhân của sự việc, chú ý phân tích cả nguyên nhân chủ quan lẫn nguyên nhân khách quanBước 4 Phân tích những ảnh hưởng của vấn đề tới xã hội cũng như với mỗi cá nhân, chú ý phân tích cả ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cựcBước 5 Mở rộng vấn đề cần nghị luận bằng cách giải thích, chứng minh, đào sâu vấn đề, lật ngược vấn 6 Nhấn mạnh lại quan điểm cá nhân về vấn đề đó tốt hay xấu, cần suy tôn hay nên bác bỏBước 7 Rút ra bài học cho bản thân và cho xã hội2, Một số lưu ý để viết được một bài văn chuẩn cấu trúc bài văn nghị luận xã hộiPhân bố thời gian làm bài hợp lý. Đoạn văn nghị luận xã hội chỉ gồm 200 chữ cho đến 250 chữ, các em không nên dành quá nhiều thời gian cho câu hỏi này. Song cũng không nên mải mê làm các câu khác và viết đoạn văn nghị luận một cách qua loa, cẩu thả Phân bổ thời gian hợp lí là chìa khóa đạt điểm cao môn Ngữ vănViết câu ngắn gọn, không rườm rà, tiết chế các yếu tố biểu cảm làm mất đi tính rõ ràng, xác thực mà một bài văn nghị luận xã hội cần cóDẫn chứng đưa ra phải hợp lí, không được quá ít hoặc quá nhiều; dẫn chứng chung chung hoặc không khách quan, mang tính cảm tính, thiếu sự thực tế, logic3, Chữa đề nghị luận xã hội – cách làm chuẩn cấu trúc bài văn nghị luận xã hộiĐọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầuTrong một nhóm người, số đông sẽ tạo áp lực buộc số ít phải hành động theo số đông, hoặc là số ít sẽ bị khai trừ. Tâm lý này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, nguyên nhân số một là là tâm lý đám đông. Khi không thay đổi được số ít, số đông có thể sẽ dùng những biện pháp tiêu cực để loại bỏ số ít ra khỏi cộng đồng, dẫn tới những hậu quả thương tâm. Trong hàng ngàn năm lịch sử, không ít người đã có những kết cục bi thảm chỉ vì những tư tưởng cách tân. Nếu bạn suy nghĩ và hành động khác mọi người, mọi người sẽ nhìn bạn như một kẻ lập dị. Lobachevsky khi phát minh ra môn hình học mang tên mình còn gọi là hình học phi Eculid đã bị cho là một kẻ điên cho đến mãi một thế kỷ sau. Tâm lý đám đông chính là một trong những rào cản hàng đầu ngăn cản xã hội đi lên, bởi vì đã là cách tân thì phải có điểm khác với số đông. Chưa nhà cải cách nào, tư tưởng mới nào, không vấp phải sự phản đối từ một đám đông cuồng trào lưu vi phạm đạo đức thậm chí là cả pháp luật đang lan nhanh trên các trang mạng xã hội là tung thông tin cá nhân, hình ảnh của những người “bị ghét” để đám đông “bày tỏ cảm xúc”. Đây là hành động của những người thiếu ý thức cộng đồng, kém nhận thức xã hội. Nhưng chúng ta có tư duy, vì thế hãy có đầu óc nhận biết khi nào cần nói gì, làm gì, để chống lại những suy nghĩ bản năng. Đừng để bị cuốn theo những đám đông cuồng nộ và ngu 1 Xác định hai thao tác lập luận được sử dụng trong đoạn văn bản 2 Theo tác giả bài viết, thế nào là một đám đông “cuồng nộ và ngu dốt”?Câu 3 Nêu nội dung của văn bản 4 Anh chị có đồng ý với quan điểm “Tâm lý đám đông chính là một trong những rào cản hàng đầu ngăn cản xã hội đi lên” hay không?Câu 5 Từ văn bản trên, hãy viết đoạn văn khoảng 200 từ nêu ý kiến của anh chị về những biện pháp để không “bị cuốn theo những đám đông cuồng nộ và ngu dốt”.Hướng dẫn trả lời câu hỏiCâu 1 Hai thao tác lập luận được sử dụng trong đoạn văn bản trên Bình luận, chứng 2 Theo tác giả bài viết, một đám đông “cuồng nộ và ngu dốt” làĐám đông này phản đối, đàn áp, thậm chí gây ra hậu quả thương tâm cho những cá nhân có quan điểm cách tân, những tư tưởng tiến bộ có tác dụng thúc đẩy xã hội đi đông này tận dụng các trang mạng xã hội để tạo dư luận không tốt về những cá nhân mâu thuẫn với kẻ đăng tải thông tin mà không biết rằng đó là một hành động vi phạm đạo đức thậm chí là cả pháp luật. Không giống như các đề văn về các chủ đề như môi trường, “tâm lí đám đông” là một đề nghị luận khó, đòi hỏi học sinh phải có tư duy phản biện tốt và kiến thức xã hội sâu sắcCâu 3 Nội dung của văn bản trênQua những dẫn chứng cụ thể, sinh động, tác giả văn bản đã trình bày quan điểm về tác hại khôn lường của tâm lí đám đông đối với cá nhân và xã qua văn bản, tác giả cũng đã bày tỏ thái độ lên án, phê phán nặng nề thứ “tâm lí đám đông” đang tận dụng các trang mạng xã hội để để tạo dư luận không tốt, ngăn cản những quan điểm cách tân, tiến bộ. Người viết cũng đã cảnh tỉnh mọi người tránh bị cuốn theo những đám đông cuồng nộ và ngu dốt vì nhiều khả năng việc làm của đám đông ấy là những hành động vi phạm đạo đức thậm chí là cả pháp luật.Câu 4 Ý kiến trên hoàn toàn xác đáng, vì những nguyên nhân sau. Các em có thể sử dụng chúng để hoàn thành cấu trúc bài văn nghị luận xã hội“Tâm lí đám đông” vốn coi trọng sự tương đồng, có tính ổn định cao, thậm chí bảo thủ, cứng nhắc nên sẵn sàng phản đối những điều mới lạ, khác biệt, dù rằng những tư tưởng, quan điểm ấy rất tiến bộ, có thể đưa xã hội đi nay, khi lợi thế của các trang mạng xã hội đang được tận dụng tối đa, “tâm lí đám đông” ấy sẽ còn lôi kéo thêm được rất nhiều cá nhân thiếu hiểu biết, a dua nhằm ngăn cản những quan điểm cách tân, giá trị của thiểu số có năng lực, có nhận thức đúng lo sợ sự khống chế, đàn áp hoặc bị loại bỏ bằng những biện pháp tiêu cực, những cá nhân có sự khác biệt, có tư duy tích cực, đổi mới sẽ không dám trình bày quan điểm cá nhân, không dám thể hiện chính kiến để rồi dần dần chấp nhận xuôi chiều theo đám đông ngu dốt và cuồng 5 Dàn ý chuẩn cấu trúc bài văn nghị luận xã hội về hiện tượng đời sống về đám đông cuồng nộ và ngu dốt như sauMở bài Giới thiệu sơ lược về đám đông cuồng nộ và ngu dốtThân bàiLuận điểm 1 Trước hết, để không “bị cuốn theo những đám đông cuồng nộ và ngu dốt”, mỗi người đều cần hiểu rõ những tác hại đối với cá nhân và xã hội mà đám đông ấy gây ra. Cụ thể Đám đông này phản đối, đàn áp, thậm chí gây ra hậu quả thương tâm cho những cá nhân có quan điểm cách tân, những tư tưởng tiến bộ có tác dụng thúc đẩy xã hội đi lên. Đám đông này tận dụng các trang mạng xã hội để tạo dư luận không tốt về những cá nhân mâu thuẫn với kẻ đăng tải thông tin mà không biết rằng đó là một hành động vi phạm đạo đức thậm chí là cả pháp luật nêu dẫn chứngLuận điểm 2 Mỗi cá nhân phải lên tiếng và động viên người khác phê phán, chống lại cũng như ngăn chặn những hành động quá khích của đám đông tiêu cực điểm 3 Mỗi người trong chúng ta cần thể hiện chính kiến trong mọi việc, tránh thái độ xuôi chiều, thỏa bài Khẳng định lại quan điểm phê phán đám đông cuồng nộ và ngu dốtCó thể thấy rằng, để viết một đoạn văn hay bài văn nghị luận xã hội chuẩn cấu trúc bài văn nghị luận xã hội không khó. Chỉ cần áp dụng đúng cấu trúc 6 bước, cùng với những kiến thức xã hội thực tế về vấn đề, các em học sinh dễ dàng hoàn thành đoạn văn nghị luận 200 chữ như yêu cầu của đề thông tin xin mời liên hệCCBook – Đọc là đỗĐịa chỉ Số 10 Dương Quảng Hàm, Cầu Giấy, Hà NộiHotline [email protected]Nguồn
cấu trúc bài văn nghị luận xã hội lớp 9